Chi tiết nhân vật
1. Khái quát chung về nhân vật
Nhân vật trữ tình: “Thằng Cuội” - nhân vật trong truyện dân gian. Tương truyền nhà Cuội vốn có cây đa làm thuốc rất quý, một hôm vợ Cuội ở nhà quên lời chồng dặn, đã tưới nước không sạch vào cây, khiến cây bay lên trời. Cuội vì tiếc, bám vào cây, thế là bay lên cung trăng, không quay về nữa. Bên cạnh đó, hình ảnh “thằng Cuội” gắn liền với sự lém lỉnh, khôn ngoan. Ở đây thi sĩ muốn trở thành “thằng Cuội” thể hiện ước muốn bay lên cung trăng. Đó là ước mơ về sự giải thoát khỏi cuộc sống trần gian. Đồng thời cũng thể hiện một thái độ “ngông”, pha chút tếu táo của thi sĩ.
2. Hành động nhân vật
“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.”
Mở đầu bài thơ là một lời than thở, một nỗi sầu da diết. Giọng điệu thân thiết pha chút mỉa mai bởi cuộc đời ngột ngạt, bon chen vì công đanh dang dở: "Tài cao, phận thấp, chí khí uất”. Là thi sĩ nên nỗi buồn đã kết thành nỗi sầu. Đây là thái độ không chấp nhận thực tại, bất hoà thực tại, bất hoà với trần thế.
Ông khát khao một cuộc sống đẹp hơn, vượt lên trên cái thấp hèn:
“Cung quế đã ai ngồi đó chửa?”
Đó là thế giới mà ông mơ ước, là cõi đời trong sáng, tinh khiết, không vướng bẩn, không lo lắng, bon chen.
Hai câu thơ là câu hỏi, là lời đề nghị, là lời cầu xin được lên cung trăng, nơi thanh cao, không phải chịu cảnh đời trần thế nhố nhăng tù hãm. Thông qua “thằng cuội” ta như thấy được nỗi sầu của Tàn Đà đó là nỗi sầu của người nô lệ. Bất lực trước thực tại, Tản Đà muốn lẩn trốn vào thiên nhiên bằng mộng tưởng:
“Có bầu có bạn, can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui”
Thi sĩ lên cung quế có bạn, có bè quên đi nỗi ngán ngẩm, chán nản, và giải toả được nỗi buồn - ông đã "vui” đã "cười" - ông cười tất cả những giành giật, nhố nhăng nơi trần thế, "cười” sung sướng khi thấy cõi trần không ai được như ông, được hưởng cuộc sống thần tiên thoát tục.
Hai câu thơ:
“Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông thấy thế gian cười”
thật độc đáo và lãng mạn. Rằm tháng tám là khi trăng trong nhất, đẹp nhất và cũng là sáng nhất. Vào lúc tuyệt vời nhất của trăng ấy, nhân vật trữ tình ước muốn cùng chị Hằng; ngồi bên chị Hằng tựa vào nhau mà nhìn xuống trần thế để cười.
Câu thơ là đỉnh cao của cái ngông rất phù hợp với tính chất Tản Đà. Ngồi bên cạnh người đẹp, đó đã là một niềm hạnh phúc. Hơn thế nữa thi sĩ còn tự đặt mình lên một địa vị cao để mà cười cợt. Cái ngông này thật hiếm có, đáng yêu, đáng trân trọng ở trong giai đoạn này. Bởi các thi sĩ lãng mạn yêu nước nhưng không đủ dũng khí để chiến đấu - thường tìm đến thiên nhiên hoặc trốn vào mộng tưởng để trốn đời.
Cả bài thơ là giấc mộng kỳ thú, là niềm khao khát về cuộc đời đẹp, về một cõi mơ trong sáng, không vướng bận sự đời.
- Tóm lại, tâm trạng bao trùm cả bài thơ là tâm trạng buồn chán thất vọng với cuộc đời. Đó là thái độ không dung hoà với thực tại, là sự phản kháng gián tiếp với cuộc đời. Thi sĩ khát khao một xã hội tự do, tươi đẹp và trong sạch. Hình ảnh chị Hằng với cung quế, cây đa là những hình ảnh của cõi tiên đầy lãng mạn. Cõi tiên ấy là cả một thế giới mà Tản Đà mong muốn có. Thực ra, sự chán chường và niềm khát khao ấy xuất phát từ lòng yêu nước thầm kín của Tản Đà - nỗi buồn xuất phát từ nỗi nhục của người nô lệ và ước muốn xuất phát từ khát vọng được tự do.